Ngày 22/12 (DL) Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam

banner4,Ngày , ,Quân đội Nhân dân Việt Nam

Quân đội Nhân dân Việt Nam là lực lượng quân sự chính quy của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là của chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngày truyền thống là ngày 22 tháng 12 hàng năm. Quân kỳ của Quân đội Nhân dân Việt Nam là lá quốc kỳ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có thêm dòng chữ “Quyết thắng” màu vàng ở phía trên bên trái. Ngoài việc bảo vệ tổ quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam phải không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước Xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.[5]

Hiện tại (tháng 12 2014) quân đội có 489 sĩ quan cấp tướng, so với ngày 30 tháng 4 năm 1975, với số tướng là 36, đã tăng gấp 13 lần, mặc dù theo Luật sỹ quan QĐND Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam được phép có tối đa là 480 sỹ quan cấp tướng.[6]

Danh xưng

Tên gọi “Quân đội Nhân dân” là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ”. Một tên khác được nhân dân yêu mến đặt cho là “bộ đội cụ Hồ”. Trong báo chí Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam thường được viết tắt là QĐND. Chữ “Nhân dân” cũng có mặt trong nhiều tên gọi các tổ chức của Việt Nam như Công an Nhân dân, Tòa án nhân dân (Việt Nam), Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (Việt Nam)…

Quá trình phát triển

Trước Cách mạng tháng Tám

Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944. Lễ thành lập được tổ chức tại khu rừng Sam Cao nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Ban đầu gồm 34 chiến sỹ trong đó có 3 nữ với 34 khẩu súng các loại do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung; Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng; Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị; Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lý.

Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sát nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại rừng Thàn Mát, xã Định Biên, huyện Định Hóa (Thái Nguyên).

Trận đánh đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là trận Phai Khắt, Nà Ngần ngày 25 và 26 tháng 12 năm 1944. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng. Sau 7 ngày quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân.

Chiến tranh Đông Dương

Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để đối phó với sức ép của quân Tưởng Giới Thạch đòi giải tán quân đội chính quy Việt Minh, tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân. Lúc này quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ. Một số chi đội đã “Nam tiến” để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp đang tấn công trở lại ở Nam Bộ. Riêng tại Nam Trung bộ, Nam bộ và cả Tây Nguyên cũng đã có những tổ chức vũ trang tự phát, được chiêu mộ từ chính các tỉnh xung quanh, có xu hướng thân Việt Minh hoặc được VM lãnh đạo.

Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam,[7] được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội… Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, chính phủ đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Lực lượng này tồn tại trên toàn quốc, nhiều đội du kích nổi tiếng và còn dư âm đến tận bây giờ, tiêu biểu như du kích Nha Trang, du kích Ba Tơ, Bến Tre… Đến cuối năm 1946, có khoảng 1 triệu dân quân tự vệ đã được tổ chức và huấn luyện quân sự.[8] Trong thời kỳ 1945-1950, có những người nước ngoài đã tình nguyện tham gia chiến đấu và các ngành khác như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền… Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan cao cấp. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng quân đội Việt Nam trong thời kì non trẻ. (Xem bài Chiến sĩ “Việt Nam mới”).

Năm 1949, hoàn thiện tổ chức tiểu đoàn bộ binh. Đơn vị này gồm 3 đại đội bộ binh, một đại đội hỏa lực mạnh. Có súng máy hạng nặng và súng cối.

Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cần lưu ý là cùng thời gian này, một lực lượng bản xứ đã được thành lập trong chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, cũng mang tên Quân đội Quốc gia Việt Nam. Quân đội này được thành lập dựa trên Hiệp định quân sự giữa Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam (trực thuộc Liên hiệp Pháp) bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam.[9] Quân đội Quốc gia Việt Nam tham chiến cùng quân đội Pháp chống lại Quân đội Nhân dân Việt Nam, và đây chính là tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau này. Do vậy cần phân biệt rõ để tránh nhầm lẫn trong các giai đoạn sau.

Đầu năm 1950, bộ đội chủ lực đã có những trung đoàn hoàn chỉnh, cũng đã thành thạo việc đánh công kiên. Biên chế các trung đoàn này đến nay vẫn còn như vậy, rất đặc trưng Việt Nam.[10] Cũng thời gian này, để chuẩn bị thời phản công, các sư đoàn quan trọng được thành lập, đến nay vẫn là khối cơ động chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nhóm các đơn vị thuộc khối quân cơ động trung ương (thành lập 1950-1951) gồm các đại đoàn 304, 308, 312, 316, 320, 351. Sau này có thêm các đơn vị pháo binh, phòng không, pháo phản lực trong sư đoàn 351 như trung đoàn 237 (cối lớn), trung đoàn 367 (phòng không 37mm). Sư đoàn 351 còn dược gọi là bộ binh nặng, công pháo (công binh, pháo binh). Đại đoàn Bình Trị Thiên (sư 325) của thủ lĩnh Trần Quý Hai được thành lập ở miền trung. Để phù hợp với nhu cầu đánh lớn, đánh mạnh của cả quân đội, lần lượt các đơn vị cấp sư đoàn ở phía nam cũng được thành lập: “Đại đoàn” Ngự Bình 324 + đại đoàn Quảng Ngãi 305 ở liên khu V, đại đoàn Đồng Nai 338 + đại đoàn Bến Tre 330, cùng 1 số đơn vị cấp trung đoàn, tiểu đoàn độc lập.

Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên của một đất nước thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân cũ trong lịch sử thế giới của thế kỷ 20. Sau năm 1954, bộ phận Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam (dưới vĩ tuyến 17) cùng với thành viên Việt Minh (khoảng 140 ngàn người) tập kết về miền bắc Việt Nam, và được chính quy hóa. Cuối chiến tranh, Quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 24 vạn quân chủ lực và gần 1 triệu du kích.

Thiếu tá Bi-gia, đã có kinh nghiệm chiến trường chín năm liền ở Đông Dương, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ từ lúc xây dựng cứ điểm đến khi đầu hàng, đã bày tỏ sự kính trọng của mình đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam:

“Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta”.[11]

Chiến tranh Việt Nam

sau 1954, Hoa Kỳ bắt đầu nhảy vào Đông Dương thế chân Pháp. Kế thừa chính sách Da vàng hóa chiến tranh của Pháp, Hoa Kỳ lập nên chế độ Việt Nam Cộng hòa để ngăn chặn việc thi hành hiệp định Geneve, nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam và ngăn chặn đến cùng sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Với mục tiêu “đánh đổ sự thống trị thực dân mới của Mỹ”, ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam, gọi tắt là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Người Mỹ thường phân biệt Quân Giải phóng miền Nam (Việt Cộng, hoặc vi-xi) với Quân đội Nhân dân Việt Nam (mà Mỹ gọi là “Quân đội Bắc Việt Nam” tức bộ đội chủ lực). Cách gọi này xuất phát từ động cơ tuyên truyền của Việt Nam Cộng hòa, lợi dụng tên gọi vùng miền để gây chia rẽ nhân tâm cư dân miền nam, nhằm gây lầm tưởng rằng nhân dân hai miền Việt Nam có sự chia rẽ và đối địch nhau, qua đó biện hộ cho lý do tham chiến của Mỹ là để “bảo vệ Nam Việt Nam” (tương tự như cách gọi Bắc kì – Nam Kì của Pháp trước kia). Nhưng thực tế, cũng như cuộc chiến chống Pháp trước đó, cuộc chiến chống Mỹ của người Việt Nam ngay từ ban đầu đã mang tính chất toàn quốc, với sự tham chiến của cả ba miền. Người miền Nam đã trực tiếp đánh Mỹ ở tuyến đầu, còn miền Bắc chi viện và bổ sung nhân lực cho chiến trường miền Nam. Trong hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam đóng ở chiến trường miền Nam và Campuchia, Lào luôn tồn tại tỷ lệ lớn bộ đội có lý lịch quê quán ở miền Nam. Mỹ khó có thể phân biệt được qua giọng nói, nên theo Việt Nam Cộng hòa thì quân số này vào khoảng 25.000 năm 1972. Trong hàng ngũ du kích, bộ đội địa phương (chia thành các “huyện đội, tỉnh đội”), tỷ lệ người miền Nam chiếm đại đa số. Trong suốt chiến tranh, nhân dân cả ba miền Việt Nam luôn đoàn kết, ủng hộ và là hậu phương to lớn tiếp sức cho Quân đội Nhân dân Việt Nam chống lại Hoa Kỳ. Chính người dân miền Nam đã đóng góp hàng trăm nghìn chiến sĩ cho Quân đội Nhân dân Việt Nam, cũng như chịu những hy sinh lớn nhất với 29.220 trong số 44.253 Bà mẹ Việt Nam anh hùng là người miền Nam,[12] huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam (cũng thuộc miền Nam) là huyện có nhiều liệt sĩ nhất Việt Nam với 18.773 người.[13] Công trình nổi tiếng nhất về sự can trường của người dân miền Nam chống Mỹ chính là địa đạo Củ Chi, chỉ cách Sài Gòn 70 km; và nhân dân huyện Củ Chi cũng chịu tổn thất lớn khi mất đi 10 nghìn thanh niên (cả nam và nữ) từ năm 1955 đến ngày giải phóng 28/4/1975.

Về tổ chức, Quân Giải phóng miền Nam cũng là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam, có lực lượng xuất thân từ mọi miền Việt Nam, không có gì phân biệt về vùng miền, tổ chức, chỉ huy. Đây thực chất là lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam đóng ở miền Nam Việt Nam, kết hợp cả bộ phận tăng viện từ miền Bắc cũng như chiêu mộ những người chống Mỹ tại miền Nam, tạo thành lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ có đầy đủ cả người Nam và người Bắc. Quân đội Nhân dân Việt Nam khẳng định họ là lực lượng đại diện cho toàn dân tộc Việt Nam chứ không chỉ riêng vùng miền nào.

Với mục tiêu “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”,[14] Quân đội Nhân dân Việt Nam đã liên tiếp làm phá sản 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ, bất chấp việc Mỹ vào lúc cao điểm đã huy động hơn một nửa lực lượng quân đội cho chiến trường Việt Nam. Đó là những thắng lợi chiến lược vĩ đại nhất đối với họ. Sau nhiều năm sa lầy và chịu những tổn thất lớn về người và của, Mỹ buộc phải rút các dính líu quân sự khỏi Việt Nam qua hiệp định Paris năm 1973. Mất đi sự tham chiến của quân đội Mỹ và viện trợ quân sự dồi dào, chỉ 2 năm sau, hơn 1 triệu quân Việt Nam Cộng hòa cũng bị Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh tan chỉ sau 55 ngày đêm của chiến dịch Mùa Xuân 1975. Đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất cho tới nay, quân đội Mỹ phải chấp nhận thất bại trong một cuộc chiến tranh.

Do phải chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn hỏa lực mạnh, Quân đội Nhân dân Việt Nam tập trung phát triển các chiến thuật bộ binh phù hợp với số vũ khí hạn chế có trong tay và đúc kết kinh nghiệm thu được trong quá trình chiến đấu. Kết quả là Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có lực lượng bộ binh hạng nhẹ được coi là một trong những lực lượng thiện chiến hàng đầu trên thế giới. Trong một cuộc khảo sát sau cuộc chiến với các sỹ quan Hoa Kỳ từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, 44% đánh giá Quân đội Nhân dân Việt Nam là “thiện chiến và gan góc”. Một sỹ quan nhận xét “Có một khuynh hướng đánh giá thấp đối thủ. Trong thực tế, họ là địch thủ giỏi nhất mà chúng ta từng phải đối mặt trong lịch sử”.[15]

Nhờ sự kiên trì xây dựng từng bước lực lượng cũng như viện trợ của khối xã hội chủ nghĩa, năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam với 1,26 triệu quân chủ lực và địa phương cùng với hơn hàng triệu dân quân, du kích, tự vệ, so sánh với dân số VN lúc đó đứng hàng 15 trên thế giới. Quân đội cũng được tổ chức và xây dựng thành những quân đoàn chủ lực cơ động mạnh. Năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam có 4 quân đoàn chủ lực mang số thứ tự 1,2,3,4

Sau ngày thống nhất đất nước

Năm 1975, đất nước Việt Nam thống nhất. Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam hợp nhất thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Do yêu cầu tình hình chính trị – quân sự trên bán đảo Đông Dương, lực lượng vũ trang Việt Nam lúc cao điểm (thập niên 1980) được phát triển lên đến 1,6 – 2 triệu quân thường trực, xếp hạng thứ 4 thế giới. Quân đội được tổ chức thành nhiều quân đoàn chủ lực, 8 quân khu và 2 bộ tư lệnh quân tình nguyện tại Lào và Campuchia. Theo C. Thayer, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trong giai đoạn từ 1974 – 1989 lên đến chừng 14,5 tỷ đô la.[16]

Thời kỳ cải cách mở cửa

Sau năm 1990, Việt Nam hoàn tất rút quân khỏi Campuchia và bắt đầu bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, quy mô quân đội được cắt giảm. Theo CIA, hiện nay quân đội Việt Nam có hơn 400.000 quân bộ binh, hơn 50.000 lính hải quân và hơn 30.000 lính không quân, chưa kể sự yểm trợ của 60.000 bộ đội biên phòng, 260.000 công an, cảnh sát, 5 triệu quân dự bị động viên và hàng triệu dân quân tự vệ được xây dựng rộng rãi trên khắp đất nước. Theo số liệu do Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố ngày 30/9/2013 cho tùy viên quốc phòng, tùy viên quân sự các nước thì lực lượng thường trực của Quân đội Nhân dân Việt Nam gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với tổng quân số khoảng 450.000 người và lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người.[17]

Từ năm 2000 đến nay

Với sự phát triển kinh tế trong thập niên đầu của thế kỷ 21, Việt Nam đang dần đầu tư mạnh và hiện đại hóa quân đội. Hiện đại hóa quân đội là tư tưởng chỉ đạo qua hai khóa Đại hội Đảng năm 2001-2006, 2006-2011. Là một thành viên của ASEAN, thực lực quân sự của Việt Nam được các nước trong ASEAN rất coi trọng. Hiện nay, trình độ trang bị công nghệ cao của Quân đội Việt Nam hoàn toàn không cao, nhưng phân tích kỹ thì trong Hải, Lục, Không quân Việt Nam vẫn có một số vũ khí “vượt trội”.[18]

Tham chiến

Các cuộc chiến tranh

Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu liên tục từ 1940 đến 1989 với 4 trong số các cường quốc trên thế giới:

  • Chiến tranh thế giới thứ hai (Chống lại Đế quốc Pháp và Đế quốc Nhật Bản)
  • Chiến tranh Thái Bình Dương (Chống lại Đế quốc Nhật Bản và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)
  • Chiến tranh Đông Dương (Chống lại Cộng hòa Pháp và các đồng minh bản xứ)
  • Chiến tranh Việt Nam (Chống lại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và các đồng minh bản xứ)
  • Chiến tranh biên giới Việt Nam-Campuchia (Chống lại Kampuchea Dân Chủ – Khmer Đỏ)
  • Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979 (Chống lại Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa)
  • Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990 (Chống lại Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa)
  • Xung đột Thái Lan-Việt Nam 1982-1988 (Chống lại Vương Quốc Thái Lan và Khmer Đỏ)
  • Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan (Chống lại Vương Quốc Thái Lan xâm lược Lào bảo vệ đồng minh Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào)
  • Xung đột năm 1997 tại Campuchia (Chống lại Khmer Đỏ và bảo vệ đồng minh Vương Quốc Campuchia)
  • Xung đột tại Lào, xung đột tại Lào từ năm 1975 (Chống lại người Hmong nổi dậy và bảo vệ đồng minh Cộng Hòa Dân Chủ Nhân dân Lào)

Các chiến dịch quan trọng

  • Xô Viết Nghệ Tĩnh
  • Cách mạng tháng Tám
  • Trận Hà Nội 1946
  • Chiến dịch Việt Bắc 1947
  • Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng 1949
  • Chiến dịch Biên giới 1950
  • Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (Chiến dịch đường 18) 1951
  • Chiến dịch Hòa Bình 1952
  • Chiến dịch Tây Bắc 1952
  • Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 (chấm dứt Chiến tranh Đông Dương)
  • Ấp Bắc 1963
  • Chiến dịch Bình Giã cuối 1964 đầu 1965
  • Chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction City 1967
  • Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968
  • Chiến dịch đường 9 – Khe Sanh 1968
  • Chiến dịch đường 9 – Nam Lào 1971
  • Chiến dịch Xuân hè 1972
  • Trận cầu Hàm Rồng
  • Chiến dịch phòng không Hà Nội – Hải Phòng (trận Điện Biên Phủ trên không) 1972
  • Chiến dịch Tây Nguyên 1975
  • Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 (chấm dứt Chiến tranh Việt Nam)
  • Tây Nam 1978-1979 (Chiến tranh Việt-Campuchia)
  • Chiến tranh biên giới Việt – Trung, 1979
  • Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990
  • Đột kích biên giới Thái Lan
  • Hải chiến Trường Sa 1988
  • Giao tranh biên giới Lào-Thái Lan

Các tướng lĩnh tiêu biểu

Bài chi tiết: Danh sách các tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam
  1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam
  2. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đầu tiên
  3. Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng (1986-1991), nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
  4. Thượng tướng Chu Văn Tấn, chỉ huy Cứu quốc quân
  5. Thượng tướng Trần Văn Trà, tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
  6. Thượng tướng Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
  7. Trung tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh Nam Bộ – Trung tướng đầu tiên
  8. Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, tư lệnh Binh đoàn 559
  9. Trung tướng Lê Quang Đạo, nguyên Chủ tịch Quốc hội
  10. Thiếu tướng Dương Văn Dương, Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên
  11. Thiếu tướng Hoàng Sâm, đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
  12. Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, vị tướng quân đầu tiên
  13. Thiếu tướng Nguyễn Sơn, Lưỡng quốc tướng quân
  14. Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, nữ tướng đầu tiên, phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam

Tổ chức

  • Theo Luật Quốc phòng năm 2005 (luật số 39/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005), Quân đội nhân dân là một bộ phận và là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Lực lượng Thường trực và Lực lượng Dự bị Động viên. Lực lượng Thường trực của Quân đội nhân dân có Bộ đội Chủ lực, Bộ đội Địa phương và Bộ đội Biên phòng. Cấp tổ chức của Quân đội Nhân dân Việt Nam từ thấp đến cao là Tiểu đội, Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Lữ đoàn, Sư đoàn (trước đây gọi là Đại đoàn). Cấp cao nhất là Quân đoàn, hiện nay có 4 quân đoàn là các quân đoàn 1, 2, 3, 4. Đây chính là quân chủ lực cơ động.
  • Từ cấp tiểu đoàn trở lên có ban chỉ huy gồm cấp trưởng, cấp phó, tham mưu trưởng và cấp phó phụ trách công tác chính trị, theo chế độ một thủ trưởng.
  • Trước đây, khi thực hiện chế độ “2 thủ trưởng”, thì ngoài thủ trưởng quân sự (đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng…), từ cấp đại đội trở lên còn có thủ trưởng chính trị, được gọi là chính trị viên (ở cấp đại đội và tiểu đoàn) hoặc chính ủy (ở cấp trung đoàn trở lên). Cấp thủ trưởng chính trị này từ sau Chiến tranh Việt Nam đã chuyển thành cấp phó phụ trách công tác chính trị.
  • Theo nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ X, chế độ chính ủy – chính trị viên lại được khôi phục trong toàn quân từ năm 2006.

Xem thêm bài: Tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam

Lãnh đạo

Chủ tịch nước có vai trò là Thống lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam thông qua Hội đồng Quốc phòng và An ninh Việt Nam. Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về nhiệm vụ Quốc phòng, An ninh. Tuy nhiên Quân đội Nhân dân chịu sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy trong quân đội là Quân ủy Trung ương.[19]

Các chức vụ cao nhất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam gồm Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng, có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng. Ngoài ra, trước đây từng có chức vụ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang do đại tướng Võ Nguyên Giáp nắm giữ.

Đảng ủy Quân sự Trung ương, gọi tắt là Quân ủy Trung ương, là cơ quan lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập vào tháng 1 năm 1946 do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp làm Bí thư Quân ủy Trung ương.

Ngoài ra còn có Tòa án quân sự Trung ương và Viện Kiểm sát quân sự Trung ương là 2 cơ quan chức năng trực thuộc ngành Tư pháp và Kiểm sát hoạt động trong quân đội.

Xem thêm: Danh sách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam

Quy định về chức vụ

Xem thêm: Chức vụ Quân đội Nhân dân Việt Nam

Cấp bậc quân hàm

Xem thêm: Quân hàm Quân đội Việt Nam và một số quốc gia

Theo Lệnh của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 32/2014/L-CTN ngày 09/12/2014, các cấp bậc của Quân đội Nhân dân Việt Nam được quy định như sau:

Màu viền của quân hàm thể hiện các quân chủng:

  • Lục quân: màu đỏ tươi
  • Không quân và Phòng không: màu xanh da trời
  • Hải quân: màu tím than.

Màu nền là màu vàng.

  • Quân hàm Bộ đội biên phòng có màu viền là màu đỏ tươi tương tự như Lục quân, nhưng có màu nền xanh lá cây.
  • Quân hàm Cảnh sát biển có màu viền vàng nhưng có màu nền là màu xanh nước biển.
Bậc Cấp Lục quân Phòng không-Không quân Hải quân Biên phòng Cảnh sát biển
Vietnam Ground Forces symbol.jpg
Air Force wings.jpg
Anchor Navy.jpg
Vietnam Border Defense Force symbol.jpg
Anchor Marine Police.jpg
Sĩ quan cấp Tướng Đại tướng
Vietnam People's Army General.jpg
Thượng tướng/
Đô đốc
Vietnam People's Army Colonel General.jpg
Vietnam People's Air Force Colonel General.jpg
Vietnam People's Navy Admiral.jpg
Vietnam Marine Police Colonel General.jpg
Trung tướng/
Phó Đô đốc
Vietnam People's Army Lieutenant General.jpg
Vietnam People's Air Force Lieutenant General.jpg
Vietnam People's Navy Vice Admiral.jpg
Vietnam Border Defense Force Colonel General.jpg
Vietnam Marine Police Lieutenant General.jpg
Thiếu tướng/
Chuẩn Đô đốc
Vietnam People's Army Major General.jpg
Vietnam People's Air Force Major General.jpg
Vietnam People's Navy Rear Admiral.jpg
Vietnam Border Defense Force Major General.jpg
Vietnam Marine Police Major General.jpg
Sĩ quan cấp Tá Đại tá
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Air Force Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Navy Commodorel.jpg
Vietnam Border Defense Force Senior Colonel.jpg
Vietnam Marine Police Colonel.jpg
Thượng tá
Vietnam People's Army Colonel.jpg
Vietnam People's Air Force Colonel.jpg
Vietnam People's Navy Senior Commander.jpg
Vietnam Border Defense Force Colonel.jpg
Vietnam Marine Police Senior Colonel.jpg
Trung tá
Vietnam People's Army Lieutenant Colonel.jpg
Vietnam People's Air Force Lieutenant Colonel.jpg
Vietnam People's Navy Commander.jpg
Vietnam Border Defense Force Lieutenant Colonel.jpg
Vietnam Marine Police Lieutenant Colonel.jpg
Thiếu tá
Vietnam People's Army Major.jpg
Vietnam People's Air Force Major.jpg
Vietnam People's Navy Lieutenant Commander.jpg
Vietnam Border Defense Force Major.jpg
Vietnam Marine Police Major.jpg
Sĩ quan cấp Úy Đại úy
Vietnam People's Army Captain.jpg
Vietnam People's Air Force Captain.jpg
Vietnam People's Navy Senior Lieutenant.jpg
Vietnam Border Defense Force Captain.jpg
Vietnam Marine Police Captain.jpg
Thượng úy
Vietnam People's Army Senior Lieutenant.jpg
Vietnam People's Air Force Senior Lieutenant.jpg
Vietnam People's Navy Lieutenant.jpg
Vietnam Border Defense Force Senior Lieutenant.jpg
Vietnam Marine Police Senior Lieutenant.jpg
Trung úy
Vietnam People's Army Lieutenant.jpg
Vietnam People's Air Force Lieutenant.jpg
Vietnam People's Navy SubLieutenant.jpg
Vietnam Border Defense Force Lieutenant.jpg
Vietnam Marine Police Lieutenant.jpg
Thiếu úy
Vietnam People's Army SubLieutenant.jpg
Vietnam People's Air Force SubLieutenant.jpg
Vietnam People's Navy Ensign.jpg
Vietnam Border Defense Force SubLieutenant.jpg
Vietnam Marine Police SubLieutenant.jpg
Học viên Sĩ quan Học viên Sĩ quan
Vietnam People's Army student officer.jpg
Vietnam People's Air Force student officer.jpg
Vietnam People's Navy student officer.jpg
Vietnam Border Defense Force student officer.jpg
Vietnam People's Navy student officer.jpg
Hạ sĩ quan Thượng sĩ
Vietnam People's Army Sergeant major.jpg
Vietnam People's Air Force Sergeant major.jpg
Vietnam People's Navy Sergeant major.png
Vietnam Border Defense Force Sergeant major.jpg
Vietnam Marine Police Sergeant major.jpg
Trung sĩ
Vietnam People's Army Sergeant.jpg
Vietnam People's Air Force Sergeant.jpg
Vietnam People's Navy Sergeant.png
Vietnam Border Defense Force Sergeant.jpg
Vietnam Marine Police Sergeant.jpg
Hạ sĩ
Vietnam People's Army Corporal.jpg
Vietnam People's Air Force Corporal.jpg
Vietnam People's Navy Corporal.png
Vietnam Border Defense Force Corporal.jpg
Vietnam Marine Police Corporal.jpg
Chiến sĩ Binh nhất
Vietnam People's Army First Private.jpg
Vietnam People's Air Force First Private.jpg
Vietnam People's Navy private first class.png
Vietnam Border Defense Force First Private.jpg
Vietnam Marine Police First Private.jpg
Binh nhì
Vietnam People's Army Second Private.jpg
Vietnam People's Air Force Second Private.jpg
Vietnam People's Navy Private second class.png
Vietnam Border Defense Force Second Private.jpg
Vietnam Marine Police Second Private.jpg

Quân hàm quân nhân chuyên nghiệp

Bậc Cấp Lục quân Phòng không-Không quân Hải quân Biên phòng Cảnh sát biển
Vietnam Ground Forces symbol.jpg
Air Force wings.jpg
Anchor Navy.jpg
Vietnam Border Defense Force symbol.jpg
Anchor Marine Police.jpg
Sĩ quan cấp Tá Thượng tá
Vietnam People's Army Colonel2.jpg
Vietnam People's Air Force Colonel2.jpg
Vietnam People's Navy Senior Commander2.jpg
Vietnam Border Defense Force Colonel2.jpg
Vietnam Marine Police Senior Colonel2.jpg
Trung tá
Vietnam People's Army Lieutenant Colonel2.jpg
Vietnam People's Air Force Lieutenant Colonel2.jpg
Vietnam People's Navy Commander2.jpg
Vietnam Border Defense Force Lieutenant Colonel2.jpg
Vietnam Marine Police Lieutenant Colonel2.jpg
Thiếu tá
Vietnam People's Army Major2.jpg
Vietnam People's Air Force Major2.jpg
Vietnam People's Navy Lieutenant Commander2.jpg
Vietnam Border Defense Force Major2.jpg
Vietnam Marine Police Major2.jpg
Sĩ quan cấp Úy Đại úy
Vietnam People's Army Captain2.jpg
Vietnam People's Air Force Captain2.jpg
Vietnam People's Navy Senior Lieutenant3.jpg
Vietnam Border Defense Force Captain2.jpg
Vietnam Marine Police Captain2.jpg
Thượng úy
Vietnam People's Army Senior Lieutenant2.jpg
Vietnam People's Air Force Senior Lieutenant2.jpg
Vietnam People's Navy Senior Lieutenant2.jpg
Vietnam Border Defense Force Senior Lieutenant2.jpg
Vietnam Marine Police Senior Lieutenant2.jpg
Trung úy
Vietnam People's Army Lieutenant2.jpg
Vietnam People's Air Force Lieutenant2.jpg
Vietnam People's Navy Lieutenant2.jpg
Vietnam Border Defense Force Lieutenant2.jpg
Vietnam Marine Police Lieutenant2.jpg
Thiếu úy
Vietnam People Army HalfLieutenant2.jpeg
Vietnam People's Air Force SubLieutenant2.jpg
Vietnam People's Navy Ensign2.jpg
Vietnam Border Defense Force SubLieutenant2.jpg
Vietnam Marine Police SubLieutenant2.jpg

Tiền lương

Xem thêm: Tiền lương (Quân đội Nhân dân Việt Nam)

Phù hiệu

Theo quy định năm 2009 thì Quân đội Nhân dân Việt Nam có 25 loại phù hiệu ngành, quân chủng, binh chủng sau đây:

  • Binh chủng hợp thành – Bộ binh: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo. Khẩu súng và thanh kiếm có màu vàng trên nền phù hiệu hình chữ nhật có màu đỏ.
  • Cơ giới: hình xe bọc thép đặt trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.
  • Đặc công: hình dao găm đặt trên khối bộc phá, dưới có mũi tên vòng.
  • Tăng – Thiết giáp: hình xe tăng nhìn ngang.
  • Pháo binh: hình hai nòng pháo thần công đặt chéo.
  • Hóa học: hình tia phóng xạ trên hình nhân ben-zen.
  • Công binh: hình cuốc, xẻng trên nửa bánh xe răng.
  • Thông tin: Hình sóng điện.
  • Biên phòng: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, trên vòng tròn không khép kín, dưới hình vòng cung có ký hiệu đường biên giới quốc gia.
  • Phòng không – Không quân: hình sao trên đôi cánh chim.
  • Nhảy dù: hình máy bay trên dù đang mở.
  • Tên lửa: hình tên lửa trên nền mây.
  • Cao xạ: hình khẩu pháo cao xạ.
  • Radar: hình cánh ra-đa trên bệ.
  • Hải quân: hình mỏ neo.
  • Hải quân đánh bộ: hình mỏ neo trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.
  • Cánh sát biển: hình tròn, xung quanh có hai bông lúa dập nổi màu vàng, ở giữa có hình mỏ neo màu xanh dương và chữ CSB màu đỏ.
  • Hậu cần – Tài chính: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, dưới có bông lúa.
  • Quân y, thú y: hình chữ thập đỏ trong hình tròn.
  • Kỹ thuật: hình com-pa trên chiếc búa.
  • Lái xe: hình tay lái trên nhíp xe.
  • Quân pháp: hình mộc trên hai thanh kiếm đặt chéo.
  • Quân nhạc: hình chiếc kèn và sáo đặt chéo.
  • Thể dục thể thao: hình cung tên.
  • Văn hóa nghệ thuật: hình biểu tượng âm nhạc và cây đàn.

Trang phục

Ngày 26 tháng 8 năm 2009, Thủ tướng Việt Nam ra Quyết định số 109/2009/QĐ-TTg quy định về quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu lễ phục của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ ngày 22 tháng 12 năm 2009, các sĩ quan Việt Nam cũng sử dụng quân phục mới kiểu K-08.[20]

Vũ khí, khí tài quân sự

Quân đội nhân dân Việt Nam không công khai các thông tin về vũ khí, khí tài của mình nên việc biết chính xác các thông tin này dường như là điều không thể. Hiện nay Quân đội nhân dân Việt Nam đang sở hữu một lượng vũ khí lớn, một phần là từ thời Chiến tranh Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Vũ khí được sử dụng chủ yếu là từ Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ (Do năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tịch thu một số lượng vũ khí tương đối lớn do Hoa Kỳ viện trợ cho quân đội Sài Gòn trước đó). Từ năm 1990 trở đi, các bạn hàng vũ khí của Việt Nam được mở rộng, cả với Ấn Độ, Pháp, Israel, Triều Tiên, Nga, Hàn quốc…[21]

Phát triển và hiện đại hóa vũ khí trang bị

Bài chi tiết: Hiện đại hóa Quân đội Nhân dân Việt Nam

Trong suốt Chiến tranh Việt Nam (1965-1975) và Chiến tranh biên giới Tây Nam (1979-1989), Việt Nam hầu như dựa hoàn toàn vào các hệ thống vũ khí trang bị có nguồn gốc từ Liên bang Xô viết. Kể từ sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, đã kết thúc giai đoạn “bán rẻ như cho” và Việt Nam bắt đầu phải thanh toán tiền mua vũ khí trang bị bằng ngoại tệ mạnh hoặc bằng hàng đổi hàng.

Việt Nam đã đặt việc phát triển kinh tế lên hàng đầu và chỉ duy trì mức tăng chi tiêu quốc phòng một cách nhỏ giọt. Việt Nam không tiến hành các đợt mua sắm hay nâng cấp vũ khí lớn. Phải tới tận cuối những năm 1990, Chính phủ Việt Nam công bố một loạt các chương trình mua sắm các hệ thống vũ khí trang bị hiện đại. Theo đó, Việt Nam chậm rãi phát triển hải quân và không quân để kiểm soát các vùng nước nông và vùng đặc quyền kinh tế.

Hầu hết các chương trình mua sắm quốc phòng chủ yếu được thực hiện để đảm bảo ưu tiên này. Ví dụ, Việt Nam đã mua một số máy bay chiến đấu và tàu chiến có khả năng tác chiến khá cao. Việt Nam cũng lên kế hoạch phát triển nền công nghiệp quốc phòng với ưu tiên cho hải quân, có sự kết hợp với các đồng minh cũ (Nga, các nước Đông Âu) và Ấn Độ.

Trang bị của Quân chủng Lục quân

Xe tăng

  •  Liên Xô T-54/55 Xe tăng chiến đấu chủ lực (850)
  •  Liên Xô T-62 Xe tăng chiến đấu chủ lực (220)
  •  Israel/ Việt Nam T-55M3 Xe tăng chiến đấu chủ lực (nâng cấp từ xe tăng T-54B/T-55 và T-59)
  •  Liên Xô PT-76 Xe tăng lội nước hạng nhẹ (khoảng 300)
  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Type-59 Xe tăng chiến đấu chủ lực (360)
  •  Liên Xô T-34 Chủ yếu dùng để huấn luyện (rất ít)
  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Type 62 Xe tăng hạng nhẹ (300)
  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Type-63 Xe tăng lội nước (500)
  •  Triều Tiên PT-85 Xe tăng lội nước hạng nhẹ (100)

Pháo tự hành

  •  Liên Xô SU-100 Pháo tự hành 100 mm (100)
  •  Liên Xô 2S1 Gvozdika Pháo tự hành 122 mm (100-150)
  •  Liên Xô 2S3 Akatsiya Pháo tự hành 152 mm (50-70)
  •  Liên Xô ZSU-23-4 Shilka pháo phòng không tự hành 23mm 4 nòng (100)

Vũ khí loại bỏ

  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M41 Walker Bul
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M48 Patton Xe tăng hạng trung (nghỉ hưu,dự bị)

Xe bộ binh

  •  Liên Xô BMP-1 Xe chiến đấu bộ binh (600)
  •  Liên Xô BMP-2 Xe chiến đấu bộ binh (600)
  •  Liên Xô BTR-50 Xe thiết giáp chở quân
  •  Liên Xô BTR-60 Xe thiết giáp chở quân (500)
  •  Liên Xô BTR-152 Xe thiết giáp chở quân
  •  Liên Xô BRDM-1 Xe thiết giáp trinh sát (200)
  •  Liên Xô BRDM-2 Xe thiết giáp trinh sát (480)
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M-113 Xe thiết giáp chở quân (500)
  •  Israel RAM-2000 Xe thiết giáp chống mìn (100)
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ V-100 Xe thiết giáp hạng nhẹ (300)
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ V-150 Xe thiết giáp hạng nhẹ (200)

Vũ khí loại bỏ

  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Type-63 Xe thiết giáp chở quân
  •  Liên Xô BTR-40 Xe thiết giáp chở quân

Súng cối – Pháo

Lễ duyệt binh kỷ niệm 34 năm giải phóng Trường Sa
  •  Liên Xô S-60 Pháo phòng không 57mm
  •  Liên Xô 61-K Pháo phòng không 37mm (1 hoặc 2 nòng)
  •  Liên Xô ZU-23-2 Pháo phòng không 23mm 2 nòng
  •  Việt Nam Súng cối giảm âm 50mm
  •  Liên Xô Súng cối 60mm (nhiều phiên bản)
  •  Liên Xô Súng cối 82mm (nhiều phiên bản)
  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Súng cối 100mm
  •  Liên Xô 120-PM-38M Súng cối hạng nặng 120 mm.
  •  Liên Xô 120-PM-43 Súng cối hạng nặng 120mm
  •  Liên Xô 2B11 Súng cối hạng nặng 120 mm
  •  Liên Xô M-160 Súng cối hạng nặng 160mm
  •  Liên Xô SPG-9 Pháo không giật 73mm
  •  Liên Xô B-10 Pháo không giật 82mm
  •  Liên Xô D-44 Pháo bắn thẳng 85mm
  •  Liên Xô BS-3 Lựu pháo 100mm
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M2A1 Lựu pháo 105mm
  •  Liên Xô D-74 Lựu pháo 122 mm
  •  Liên Xô D-30 Lựu pháo 122mm (450)
  •  Liên Xô M-46 130mm Lựu pháo nòng dài 130mm (250)
  •  Liên Xô D-20 Pháo bức kích 152mm (350)
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M-114 Pháo bức kích 155mm (100)
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M107 Đại bác tự hành 175mm
  •  Liên Xô BM-14 Pháo phản lực phóng loạt 140mm 16 ống (400)
  •  Liên Xô BM-21 Pháo phản lực phóng loạt 122mm 40 ống (350)
  •  Liên Xô/Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa H-12 Pháo phản lực phóng loạt 106,7mm 12 ống
  •  Liên Xô ĐKB Pháo phản lực mang vác 122mm (1 ống phóng đơn phóng đạn BM-21 để trang bị cho bộ binh mang vác)

Vũ khí loại bỏ

  •  Liên Xô BM-13 Pháo phản lực phóng loạt 132mm 16 ống
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M-40 Pháo không giật 106mm
  •  Liên Xô B-11 Pháo không giật 107mm
  •  Liên Xô ZSU-57-2 Pháo phòng không tự hành 57mm 2 nòng
  •  Liên Xô KS-19 100 mm Pháo phòng không tầm cao 100 mm.
  •  Liên Xô/Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cao xạ tự hành K-63 Pháo phòng không tự hành K-63 37 mm

Tên lửa mặt đất

  •  Liên Xô Nudelman AT-2 Swatter Tên lửa chống tăng (sử dụng trên trực thăng Mi-24)
  •  Liên Xô Kolomna AT-3 Sagger Tên lửa chống tăng
  •  Liên Xô AT-4 Spigot Tên lửa chống tăng
  •  Liên Xô AT-5 Spandrel Tên lửa chống tăng
  •  Nga 9K114 Shturm Tên lửa chống tăng (sử dụng phiên bản hải quân SHTURM-Ataka trang bị cho các Tàu tuần tra cao tốc Mirage mua của Nga)

Vũ khí bộ binh

Súng ngắn

  •  Liên Xô TT-33 Súng ngắn 7,62x25mm
  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Type-54 Phiên bản TT-33 do Trung Quốc sao chép.
  •  Liên Xô K-67 Súng ngắn giảm thanh
  •  Việt Nam Súng ám sát 2 nòng 7,62mm MCP [22]
  •  Liên Xô PM (K59) Súng ngắn 9x18mm
  •  Liên Xô Stechkin APS Súng ngắn tự động 9x18mm (trang bị cho đặc công)
  • Flag of Germany.svg Đức Walther PP Súng ngắn tự động 9×18 mm
  •  Tiệp Khắc CZ 52 Súng ngắn 7,62x25mm
  •  Tiệp Khắc CZ 83 Súng ngắn (biến thể xuất khẩu của CZ 82, CZ 82 lại là phiên bản của PM (K59) nhưng tăng số đạn trong hộp tiếp đạn lên 12 viên)
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M-1911A1 Súng ngắn.45ACP
  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Súng ngắn Type 59 (Trung Quốc) Sao chép súng ngắn Makarov PM của Liên Xô.

Súng trường

  •  Liên Xô/ Việt Nam AK-47 Súng trường tấn công
  •  Liên Xô/ Việt Nam AKM/AKMS Súng trường tấn công
  •  Liên Xô AKS Súng trường tấn công (phiên bản báng gập của AK-47, trang bị cho đặc công)
  •  Nga/ Việt Nam AK-103 Súng trường tấn công
  •  Việt Nam STL-A1 Súng trường tấn công cải tiến dựa trên AKM, có báng nhựa gấp được của AK-74, ống đầu nòng bù giật của AK-74, có ray ở phía dưới ốp lót tay và ở má trái súng để lắp khí tài quang học và súng phóng lựu M-203 của Mỹ. Một phiên bản khác được sản xuất với báng nhựa cố định nhằm trang bị cho lính nghĩa vụ.
  •  Liên Xô AK-74 Súng trường tấn công (trang bị hạn chế cho hải quân)
  •  Liên Xô APS Súng trường tấn công dưới nước (trang bị cho lực lượng đặc công nước, đặc công người nhái)
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M-16(AR-15) Súng trường tấn công
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ CAR-15 Súng carbine, nhưng phân loại kỹ chiến thuật chính xác là tiểu liên (trang bị cho đặc công, cảnh sát biển, đặc nhiệm quân báo)
  •  Việt Nam M-18 Súng carbine, biến thể của CAR-15 được Việt Nam cải tiến.
  •  Israel TAR-21 Súng trường tấn công[23] (trang bị cho hải quân đánh bộ)
  •  Israel IMI Galil (Phiên bản Galil ACE 31, 32) Súng trường tấn công[23]
  •  Liên Xô Mosin Nagant Súng trường chiến đấu (mẫu carbine M44 (K44), trang bị cho dân quân địa phương, quân chủ lực không còn sử dụng.
  •  Liên Xô CKC Súng trường bán tự động (trang bị cho dân quân tự vệ)
  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Type 56 loại khác của CKC/SKS (trang bị cho dân quân tự vệ)
  •  Hungary AMD 65 Phiên bả AK-47 do Hungary sản xuất
  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa/ Việt Nam Type 56 (1 kiểu khác của AK-47)
  •  Tiệp Khắc vz. 58 Súng trường tấn công (1 kiểu khác của AK-47)
  •  Belgium FN FNC Súng trường tấn công 5.56mm

Súng tiểu liên

  •  Việt Nam K-50M súng tiểu liên (sao chép PPSh-41 và sử dụng phụ kiện của PPS-43, trang bị cho dân quân)
  •  Liên Xô PPSh-41 Súng tiểu liên (trang bị cho dân quân, lưu trữ)
  •  Liên Xô PPS-43 Súng tiểu liên (trang bị cho dân quân, lưu trữ)
  •  Israel Uzi Súng tiểu liên (trang bị cho đặc công), chủ yếu là phiên bản Mini Uzi và Micro Uzi gắn ống ngắm MARS
  •  Ba Lan PM-63 Súng tiểu liên
  •  Tây Đức/ Pakistan MP5K Súng tiểu liên(Các đơn vị cảnh sát và đặc công là chủ yếu).

Súng bắn tỉa

  •  Israel IMI Galatz Súng bắn tỉa 7,62mm
  •  Tây Đức PSG-1 Súng bắn tỉa 7,62 mm (Các đơn vị cảnh sát đặc nhiệm) [24]
  •  Liên Xô Mosin-Nagant Biến thể bắn tỉa chuyên dụng của phiên bản M91/30, chất lượng nòng tốt hơn, tay kéo khóa nòng cong gập xuống, dùng kính ngắm PU (trang bị cho dân quân).
  •  Liên Xô SVD Súng bắn tỉa 7,62mm
  •  Nga SVU-A Phiên bản khóa nòng sau cò của SVD (trang bị cho đặc công)
  •  Việt Nam Súng bắn tỉa hạng nặng 12,7mm (Phát triển, cải tiến từ mẫu KSVK của Nga)
  •  România PSL Phiên bản SVD của Romania.
  •  Nga VSSK Súng bắn tỉa công phá.[25]
  •  Nga VSS Súng bắn tỉa giảm thanh.[25]

Súng máy hạng trung và nặng

  •  Liên Xô Súng máy hạng nặng KPV Súng máy hạng nặng 14,5 mm
  •  Liên Xô DShK Súng máy hạng nặng 12,7mm
  •  Liên Xô NSV Súng máy hạng nặng 12,7mm
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M2-HB Súng máy hạng nặng 12,7mm
  •  Liên Xô PK/PKM súng máy đa chức năng để thay thế cho các khẩu súng máy SG-43 Goryunov, sử dụng đạn 7.62x54mmR
  •  Liên Xô/Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa RPD Súng máy cá nhân 7,62mm
  •  Liên Xô RPK Súng máy cá nhân 7,62mm
  •  Nga RPK-74 Phiên bản 5.45mm của RPK (dùng cho Hải Quân đánh bộ và đặc công)
  •  Israel IMI Negev Commando Súng máy cá nhân 5,56mm (trang bị cho hải quân đánh bộ)
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M-60 Súng máy đa năng 7,62mm
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ FN M249 Minimi Mk3 Súng máy cá nhân 5,56mm (trang bị cho hải quân đánh bộ)

Súng phóng lựu

  •  Liên Xô RPG-2 Súng phóng lựu chống tăng (trang bị cho dân quân, quân chủ lực không còn sử dụng).
  •  Liên Xô RPG-7V Súng phóng lựu chống tăng.
  •  Nga RPG-29 Súng phóng lựu chống tăng
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M-72 Súng chống tăng, hiện đã cải biến thành súng phóng đạn cháy
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M79 Súng phóng lựu chống bộ binh
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M203 Súng phóng lựu (được lắp trên súng trường tấn công và súng carbine)
  •  Liên Xô/ Nga GP-25 Súng phóng lựu (trang bị cho đặc công, được lắp trên súng trường tấn công và súng carbine)
  •  Liên Xô AGS-17 Súng phóng lựu tự động
  •  Nga DP-64 Súng phóng lựu chống mục tiêu ngầm (trang bị trên Tàu tuần tra cao tốc Mirage nhằm chống tàu ngầm và người nhái)
  •  Việt Nam/Nam Phi Milkor MGL Súng phóng lựu ổ quay 6 viên, được tổng cục công nghiệp quốc phòng chế tạo theo mẫu của Nam Phi[26]
  •  Israel MATADOR Súng chống tăng vác vai 90 mm (trang bị cho Hải quân Đánh bộ)[27]

Khác

  •  Liên Xô MP-133 Súng shotgun
  •  Liên Xô KS-23 Súng shotgun
  •  Liên Xô LPO-50 Súng phun lửa

Vũ khí loại bỏ

  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Browning Hi-Power Súng ngắn 9×18 mm
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Smith & Wesson Model 10 Súng ngắn.38/200
  •  Pháp MAT-49 Súng tiểu liên
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Thompson Súng tiểu liên.
  •  Anh Quốc Lee-Enfield Súng trường chiến đấu (loại bỏ)
  •  Đức Quốc Xã Karabiner 98k Súng trường chiến đấu
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M1903 Springfield Súng trường chiến đấu
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M-1 Súng Carbine
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M1 Garand Súng trường chiến đấu
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M-14 Súng trường chiến đấu.
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M1919 Súng máy hạng nặng 7.62mm
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Browning M1917 Súng máy hạng nặng 7.62mm
  •  Liên Xô SG-43 Súng máy hạng nặng 7,62mm
  •  Liên Xô DP Súng máy cá nhân 7,62mm
  •  Liên Xô SVT-40 Súng trường bán tự động
  •  Liên Xô SVT-38 Súng trường bán tự động
  •  Anh Quốc Bren Súng máy cá nhân 7,62 mm (loại bỏ)
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ M1918 BAR Súng máy cá nhân 7,62 mm
  •  Đức Quốc Xã MG-34Súng máy cá nhân 7,92mm (loại bỏ)
  • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Type 69 RPG Súng phóng lựu chống tăng.
  •  Đức Quốc Xã MG-42Súng máy hạng trung 7,92mm

Trang bị của Quân chủng Phòng Không-Không Quân

Máy bay

  •  Nga Sukhoi Su-30MK2V Flanker-C Máy bay tiêm kích đa chức năng (36 chiếc)
  •  Nga Sukhoi Su-27SK/UB Flanker Máy bay tiêm kích đa chức năng (12 chiếc)
  •  Liên Xô Sukhoi Su-22M3/4 Fitter-J/K Máy bay tiêm kích/tấn công mặt đất
  •  Liên Xô Mikoyan-Gurevich MiG-21Bis Fishbed L/N Máy bay tiêm kích
  •  Tiệp Khắc Aero L-39 Albatros Máy bay phản lực huấn luyện (~34 chiếc)
  •  Liên Xô Yakovlev Yak-52 Máy bay huấn luyện cánh quạt
  •  Nga Yakovlev Yak-130 Máy bay phản lực huấn luyện (~6 cái). Đã đặt hàng thêm 6-12 chiếc, giao hàng 2015-2025
  •  Nga Antonov An-30 Máy bay vận tải/do thám
  •  Liên Xô Antonov An-28 Máy bay vận tải
  •  Liên Xô Antonov An-26 Curl Máy bay vận tải hạng nhẹ
  •  Ba Lan PZL M-28 Skytruck Máy bay vận tải
  •  Canada DHC-6 Twin Otter Máy bay tuần tra biển (6 chiếc)
  •  Tây Ban Nha CASA C-212 Aviocar Máy bay trinh sát (2 chiếc)
  •  Liên Xô Mil Mi-24 Hind Trực thăng chiến đấu
  •  Liên Xô Mi-8 Hip Trực thăng đa năng
  •  Liên Xô Mi-17 Hip-H Trực thăng đa năng
  •  Ba Lan PZL W-3 Sokol Trực thăng vận chuyển nhân vật quan trọng/Trực thăng cứu hộ
  •  Liên Xô Kamov Ka-32S Helix-C Trực thăng cứu hộ/chống ngầm
  •  Liên Xô Ka-27 Helix Trực thăng chống ngầm/cảnh báo sớm trên không
  •  Liên Xô/ Nga Kamov Ka-28 Trực thăng chống ngầm/cảnh báo sớm trên không[28]
  •  Pháp Eurocopter Dauphin Trực thăng chống ngầm
  •  Pháp Eurocopter Ecureuil Trực thăng đa chức năng hạng nhẹ
  •  Pháp Eurocopter EC225 Super Puma Trực thăng trinh sát vận tải
  •  Pháp Aérospatiale Puma Trực thăng dân dụng
  •  Pháp Aérospatiale Super Puma Trực thăng dân dụng
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ UH-1H Huey Trực thăng đa chức năng
  •  Việt Nam VNS-41 Thủy phi cơ hạng nhẹ
  •  Việt Nam M-400 UAV Máy bay trinh sát không người lái
  •  Việt Nam HL-1 Máy bay huấn luyện
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ P-3C Orion Máy bay do thám/chống ngầm (6 chiếc, đang đàm phán)

Tên lửa

  •  Liên Xô Lavochkin SA-2 Guideline Hệ thống tên lửa đất đối không (khoảng 30 hệ thống)
  •  Liên Xô S-125 Neva/Pechora Hệ thống tên lửa đất đối không (khoảng 30 hệ thống)
  •  Liên Xô SA-6 Gainful Hệ thống tên lửa đất đối không tự hành tầm trung (ít nhất 10 hệ thống)
  •  Liên Xô SA-7 Grail Hệ thống tên lửa đất đối không vác vai
  •  Liên Xô SA-16 Gimlet Hệ thống tên lửa đất đối không vác vai
  •  Liên Xô SA-24 Grouse Hệ thống tên lửa đất đối không vác vai (ít nhất 50 ống phóng và 400 tên lửa mua năm 2003 và đang tiến hành tự sản xuất trong nước)
  •  Liên Xô SA-9 Gaskin Hệ thống tên lửa đất đối không tự hành tầm ngắn
  •  Liên Xô SA-13 Gopher Hệ thống tên lửa đất đối không tự hành tầm ngắn
  •  Nga SA-22 Greyhound Tên lửa đất đối không tự hành tầm ngắn (12 hệ thống và 300 tên lửa)
  •  Nga SA-17 Grizzly Tên lửa đất đối không tự hành tầm trung (6 hệ thống, 200 tên lửa)
  •  Nga Almaz SA-20A Gargoyle Tên lửa đất đối không tầm xa/đánh chặn (6 hệ thống, 225 tên lửa)
  •  Liên Xô Vympel R-3S Tên lửa không đối không
  •  Liên Xô Molniya R-60 Tên lửa không đối không
  •  Nga R-27 Tên lửa không đối không
  •  Nga R-73 Tên lửa không đối không (250 quả[29])
  •  Nga Kh-25 Tên lửa không đối đất.[30]
  •  Nga Kh-41 Moskit Tên lửa chống hạm (phiên bản phóng từ trên không của P-270)
  •  Nga Kh-31 Tên lửa chống hạm (Kh-31A) hoặc chống radar (Kh-31P) (180 quả)
  •  Nga Kh-35 Uran/SS-N-25 Switchblade 3M-24E Tên lửa chống hạm (100 quả, đang đặt hàng thêm 300 quả khác và sản xuất theo công nghệ Nga chuyển giao)
  •  Nga Oniks/SS-N-26 Yakhont Tên lửa chống hạm (40 quả, trang bị cho lực lượng phòng thủ bờ biển)
  •  Nga Klub/SS-N-27 Sizzler Tên lửa chống hạm (50 quả, trang bị cho tàu ngầm lớp Kilo)
  •  Nga Kh-59 Tên lửa không đối đất (phiên bản Kh-59ME, 80 quả)
  •  Nga Kh-29 Tên lửa không đối đất[31]

Vũ khí loại bỏ

  •  Liên Xô Kamov Ka-25 Hormone Trực thăng chống ngầm
  •  Liên Xô Mi-6 Hook-A Trực thăng vận tải hạng nặng
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Boeing CH-47 Chinook – Trực thăng vận tải hạng nặng
  •  Liên Xô Yakovlev Yak-11 Máy bay huấn luyện cánh quạt
  •  Liên Xô Yakovlev Yak-18 Máy bay huấn luyện cánh quạt
  •  Tiệp Khắc Aero L-29 Delfín Máy bay huấn luyện phản lực
  •  Liên Xô Antonov An-24 Coke Máy bay vận tải đường bay nội địa (chuyển giao cho Vietnam Airlines)
  •  Liên Xô Ilyushin Il-14 Máy bay vận tải
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Douglas C-47 Skytrain Máy bay vận tải
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Lockheed Martin C-130 A/B Hercules – Máy bay vận tải bán phản lực
  •  Liên Xô Ilyushin Il-28 Máy bay ném bom hạng trung
  •  Liên Xô Beriev Be-12 Máy bay săn ngầm
  •  Liên Xô Mikoyan-Gurevich MiG-17 Máy bay tiêm kích cận âm
  •  Liên Xô Mikoyan-Gurevich MiG-19 Máy bay tiêm kích siêu âm
  •  Liên Xô Sukhoi Su-7 Máy bay cường kích siêu âm
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ A-1 Skyraider Máy bay cường kích cánh quạt
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ F-5E Freedom Fighter Máy bay tiêm kích siêu âm
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ A-37 Dragonfly Máy bay cường kích siêu âm

Trang bị của Quân chủng Hải quân

Tàu ngầm – Tàu chiến

  •  Nga Tàu ngầm lớp Kilo Tàu ngầm tấn công (3 chiếc, đang đặt hàng tiếp 3 chiếc)
  •  Nga Gepard Hộ tống hạm, khu trục hạm tàng hình (2 chiếc, đang đặt hàng tiếp 2 chiếc)
  •  Liên Xô Petya II Hộ tống hạm hạng nhẹ (5 chiếc)
  •  Hà Lan Sigma Hộ tống hạm (đặt mua 2 chiếc năm 2013, dự kiến giao cuối năm 2014-2015, tùy chọn việc đóng 2 chiếc khác trong nước)
  •  Nga BPS-500 Hộ tống hạm mang tên lửa (1 chiếc)
  •  Nga Tarantul I (Molniya 1241.RE) Hộ tống hạm mang tên lửa (4 chiếc)
  •  Nga/ Việt Nam Tarantul V (Molniya 1241.8) Hộ tống hạm mang tên lửa (2 chiếc đóng tại Nga, đóng 6 chiếc khác ở Việt Nam từ năm 2010)
  •  Liên Xô Osa II Tàu tuần tra mang tên lửa (8 chiếc)
  •  Liên Xô Turya, Turya PTF Tàu phóng lôi
  •  Liên Xô Shershen PTF Tàu phóng lôi
  •  Nga Svetlyak Tàu tuần tra mang pháo 76mm
  •  Liên Xô Yurka Tàu quét mìn
  •  Liên Xô Sonya Tàu quét mìn
  •  Liên Xô Yevgenya Tàu quét mìn
  •  Việt Nam Tàu pháo TT400 TP Tàu tuần tra mang pháo 76mm (3 chiếc, đang đóng tiếp nhiều chiếc khác)
  •  Nga Tàu tuần tra cao tốc Mirage Tàu tuần tra
  •  Ba Lan Tàu đổ bộ lớp Polnocny Tàu đổ bộ
  •  Việt Nam Tàu đổ bộ hạng nhẹ 600 tấn Việt Nam.
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Tàu đổ bộ lớp LST LST-1/542 Tàu đổ bộ

Tên lửa phòng thủ bờ biển

  •  Liên Xô 4K51 RUBEZH Hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển di động, sử dụng P-15 Termit, tầm bắn 80 km.
  •  Liên Xô 4K44 REDUT Hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển di động, sử dụng P-5 Pyatyorka, tầm bắn 500 km.[32]
  •  Nga K-300P Bastion-P Hệ thống tên lửa chống hạm phòng thủ bờ biển, sử dụng tên lửa P-800 Yakhont, tầm bắn 300 km.[33]
  • Nga bal-E

Tên lửa chống hạm

  •  Liên Xô P-15M Tên lửa chống hạm cận âm
  •  Liên Xô P-5 Pyatyorka Tên lửa chống hạm siêu âm
  •  Nga Kh-35 Tên lửa chống hạm cận âm (400 quả, đang có kế hoạch sản xuất trong nước với công nghệ chuyển giao từ Nga)
  •  Pháp Exocet MM40 Block 3+ Tên lửa chống hạm cận âm
  •  Nga P-800 Yakhont Tên lửa chống hạm siêu âm (40 quả)
  •  Nga 3M-54E Tên lửa chống hạm siêu âm, phóng từ tàu ngầm Kilo Project 636M (50 quả)

Ngư lôi

  •  Nga VA-111 Shkval Ngư lôi dành cho tàu ngầm Kilo
  •  Liên Xô/ Nga 53-65 Ngư lôi

Các lớp tàu ngừng sử dụng

  •  Liên Xô Tàu tên lửa lớp Komar Ngừng sử dụng thập niên 1980.[34]
  •  Triều Tiên Tàu ngầm lớp Yugo Tàu ngầm mini, ngừng sử dụng 2012.

Cùng Danh Mục:

Nội Dung Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>